Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

Hacking cơ bản

0 nhận xét

Ebooks tập hợp những kiến thức cơ bản để trở thành hacker, ebooks rất thích hợp cho những bạn nào muốn tìm hiểu về hacking mà chưa biết tìm ở đâu, những kiến thức trong ebooks này vừa dễ hiều lại rất thực tế, xứng đáng là một thành viên trong bộ sưu tập ebooks của các bạn…Ebooks nêu nên những khái niệm cơ bản như địa chỉ IP, Trojan / worm / virus / logicbomb, PGP, proxy, Telnet, Ping, Cookie… và nhiều khái niệm khác nữa


Ebooks cũng hướng dẫn một vài cách hacking cơ bản thông qua một số lỗi cơ bản như Unix account passwords, Kỹ thuật xâm nhập Window NT từ mạng Internet, Kỹ thuật lấy cắp cookie, lỗi Gallery,… Những ví dụ từ ebooks này rất thực tiễn, viết rất dễ hiểu.
Ebooks do một người hảo tâm đã tập hợp những bài viết từ những diễn đàn, những trang web về bảo mật và tập hợp lại thành ebooks này. Xin cảm ơn người hảo tâm (mình không biết tên người này, trong ebooks cũng không ghi nữa?!)

Đọc tiếp...

Giáo trình Oracle SQL PLSQL căn bản - 106 trang tiếng việt

0 nhận xét


Đọc tiếp...

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

Tinh thần Samurai trong thế giới phẳng

0 nhận xét
Xuất thân từ tầng lớp võ sĩ, những chiến binh Samurai từng bước gây ảnh hưởng trong xã hội Nhật Bản rồi vươn lên nắm quyền lực từ thế kỷ 12 và chiếm giữ mọi vị trí chủ chốt trong chính phủ cho đến tận năm 1868. Những chiến binh này sống theo một bộ quy tắc giá trị chặt chẽ – sau này được biết đến với tên gọi là Võ sĩ đạo – nhấn mạnh lòng dũng cảm, danh dự và sự trung thành cá nhân. Nổi tiếng về sự quả cảm, khắc kỷ và kiên cường trong mọi tình huống, họ là những chiến binh được tôn kính nhất thời đó.
Tải ebook Tinh thần Samurai trong thế giới phẳng
Cụm từ Võ sĩ đạo hiểu theo nghĩa đen là “đạo hay lối hành xử của chiến binh”. Khái niệm về một chiến binh dũng mãnh với trái tim nhân hậu nghe đầy nghịch lý, nhưng bản thân từ chiến binh trong tiếng Nhật (samurai) còn có nghĩa là “phục vụ”. Xét ở tầng ý nghĩa sâu nhất thì trái tim của một chiến binh như vậy là để giúp đỡ mọi người. Dựa trên cơ sở đó, tác giả Brian Klemmer đã mở rộng khía cạnh này để tạo ra thuật ngữ “chiến binh nhân từ” dành để chỉ những người hội tụ được các giá trị đạo đức vững vàng, có khả năng biến những ý định của mình thành hiện thực, trong khi vẫn dành trọn cuộc đời để phụng sự xã hội.
Sau khi liệt kê mười phẩm chất cần phải có của một chiến binh nhân từ, tác giả đã đề xuất những phương pháp rèn luyện bản thân hiệu quả để giúp bạn trở thành một trong những chiến binh đó. Thông qua quá trình đó, quyển “ Tinh thần Samurai trong thế giới phẳng ” (The Compassionate Samurai) sẽ giúp bạn nhận ra rằng chính bạn có thể là một người tiên phong và có ảnh hưởng sâu rộng, có khả năng xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp, vươn tới đỉnh cao của sự nghiệp, đạt được những thành công về tài chính, giúp đỡ người khác một cách có ý nghĩa, trong khi vẫn là một người biết quan tâm, chia sẻ và hưởng thụ tinh hoa cuộc sống. Đây có lẽ là sự kết hợp hoàn hảo nhất nhờ hòa quyện được niềm vui từ thành công bên ngoài xã hội với cảm giác bình an từ sâu thẳm tâm hồn. Bạn có thể tìm thấy ví dụ về những người như vậy trong suốt chiều dài lịch sử, ở mọi nền văn hóa và mọi tầng lớp xã hội, nổi bật nhất là Tướng Robert E. Lee, nhà lãnh đạo phe Liên minh trong cuộc Nội chiến Mỹ; hoặc Nelson Mandela, nhà hoạt động chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, cựu tổng thống Nam Phi; hoặc Mẹ Teresa, nữ tu Dòng Thừa sai Bác ái ở Ấn Độ đã chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối… trong suốt 40 năm. Chính bạn cũng có thể trở thành một trong những người mà tác giả gọi là “chiến binh nhân từ”.
Hầu hết mọi người đều tin rằng họ phải chọn lựa một trong hai cách: hoặc giàu có về tiền bạc nhưng thiếu tình người, hoặc nghèo khó nhưng trong sạch và thánh thiện. Bạn không cần lựa chọn, bởi vì bạn hoàn toàn có thể có được cả hai. Bạn có thể trở thành một người giàu có, sống chan hòa, sẵn sàng cho đi để giúp đỡ người khốn khó, và một chiến binh thực thụ, một người đáng tin cậy với trái tim bao dung, nhân hậu.


Nếu bạn từng có lúc thấy như mình đang đứng trước ngã ba và phải lựa chọn giữa hai con đường như thế, “Tinh thần Samurai trong thế giới phẳng ” sẽ giúp bạn kết hợp cả hai lựa chọn này để đạt được những kết quả phi thường trong một thế giới bình thường, đồng thời duy trì được những chuẩn mực đạo đức cao nhất.

Đọc tiếp...

Tiểu luận: Kỹ thuật di truyền Rapd

0 nhận xét


Bài tiểu luận ngành Công nghệ sinh học dưới đây xin giới thiệu với các bạn về kỹ thuật Rapd hay còn gọi là Random amplified polymorphic DNA được hiểu như là một kỹ thuật di truyền nghiên cứu gen DNA. Xin chúc các bạn có bài tiểu luận được đánh giá cao! 
Tiểu luận: Kỹ thuật di truyền Rapd tiểu luận ngành sinh học
Kỹ thuật RAPD dựa trên kỹ thuật PCR, bằng cách sử dụng những primer ngắn (khoảng 10 nucleotide) có trình tự biết trước, bắt cặp và nhân bản ngẫu nhiên những đoạn DNA có trình tự bổ sung với trình tự của các primer. Theo nguyên tắc, khi 2 cá thể hoàn toàn giống nhau, sau khi thực hiện phản ứng PCR – RAPD ở điều kiện như nhau sẽ tạo ra số lượng các đoạn bằng nhau và chiều dài các đoạn tương ứng bằng nhau.
Khi có đột biến làm xuất hiện hay mất đi một vị trí bắt cặp ngẫu nhiên sẽ tạo ra số lượng và chiều dài các đoạn DNA khác nhau giữa các cá thể, vì vậy kỹ thuật RAPD có thể phát hiện đột biến. Một trong những giới hạn của PCR chuẩn đối với ALP marker là mọi thông tin về chuỗi mã di truyền đầu tiên phải được biết rõ trước khi chuẩn bị các primer 23 tương ứng.
Vì thế, việc áp dụng nó để nghiên cứu DNA genome của một giống cây trồng mới sẽ gặp nhiều khó khăn. Vào đầu thập kỷ 90, một kỹ thuật phân tử mới dựa trên nguyên tắc PCR với tên gọi là RAPD (Random amplified polymorphic DNA) đã ra đời một cách độc lập tại hai phòng thí nghiệm khác nhau (William, 1990; Welsh và ctv., 1991).
Nguyên lý:
Về cơ bản kỹ thuật RAPD được thực hiện theo ba bước: Tách chiết DNA tổng số, nhân DNA bằng máy PCR; điện di trên gel agarose hoặc gel polyacrylamid; xác định tính đa dạng di truyền bằng các phần mềm thông dụng (NTSYSpc, UPGMA cluster, Gelcompar, lập dendrogram)
Kỹ thuật này cho phép phát hiện tính đa hình các đoạn DNA được nhân bản ngẫu nhiên bằng việc dùng một primer chứa một trật tự nucleotide ngẫu nhiên. Thường primer này chứa từ 9 - 12 oligonucleotit, tối thiểu là 4 bp. Có hàng ngàn loại primer chứa khoảng 10 bp nhưng số lượng primer dùng trong nghiên cứu này rất hạn chế.
Trong phản ứng này, các primer đơn gắn vào hai điểm khác nhau ở hai mạch đơn đối diện của DNA khuôn. Nếu các điểm gắn primer nằm trong khoảng có thể nhân bản được (thường 200 - 2000 nucleotide) thì đoạn DNA sẽ được nhân lên.
Sự có mặt của sản phẩm này được quan sát thông qua điện di trên gel agarose hoặc polyacrylmide đã chứng tỏ có sự tương đồng hoàn toàn hay một phần giữa DNA genome với các primer oligonucleotide. Các primer dùng trong RAPD có kích thước ngắn nên dễ tìm được các đoạn tương đồng trên các mạch đơn DNA trong genome. Vì thế, nó là một phương pháp có hiệu quả để xác định tính đa hình về trật tự nucleotide giữa các cá thể 24.
Ví dụ: tần số tìm thấy sự đa hình RAPD là 0,3/1 primer ở cây Arabidopsis thaliana là 0,5/1 primer ở cây đậu tương, 1/1 primer ở ngô.
Các ưu điểm và nhược điểm của kỹ thuật RAPD:
Ưu điểm:
  • Về mặt kỹ thuật:
    • Kỹ thuật RAPD dễ thực hiện và dễ thành công do không cần biết trước trình tự bộ gene của đối tượng cần nghiên cứu.
    • Thao tác đơn giản.
    • Chất lượng DNA khuôn không cần độ tinh sạch cao.
    • Thời gian thực hiện nhanh. Khả năng nhân bản cao.
  • Về mặt kinh tế:
    • Chi phí thực hiện thấp.
    • Kỹ thuật RAPD thường được sử dụng kết hợp với những kỹ thuật cao cấp khác để đánh giá đa dạng di truyền và nhận diện chỉ thị phân tử có độ tin cậy cao
  • Chỉ thị RAPD không cần biết trước trình tự nuleotide của đoạn DNA cần khuếch đại, quy trình tiến hành nhanh, dễ làm, ít tốn kém, cho đa hình cao, tiến hành chỉ với một lượng nhỏ DNA tính bằng nanogam và trên một số lượng mẫu thí nghiệm lớn.
  • Đồng thời RAPD không dùng chất phóng xạ để phát hiện đa hình. Do đó RAPD thường dùng trong phân tích và xác định mối quan hệ thân thuộc giữa các thứ cây trồng hay giữa các cá thể để phục vụ công tác lai tạo hoặc phân loại.
  • Để nghiên cứu sự đa dạng di truyền bằng chỉ thị RAPD có thể tiến hành với các bước như sau:
    • Tách chiết DNA tổng số, nhân DNA bằng máy PCR.
    • Điện di trên gel agarose hoặc gel polyacrylamid.
    • Xác định tính đa dạng di truyền bằng các phần mềm thông dụng (NTSYS-pc, UPGMA cluster.).
Ngoài những ứng dụng trong nghiên cứu sự đa đạng sinh học và nguồn gốc di truyền của các loài động vật, thực vật và vi sinh vật, chỉ thị RAPD cũng được sử dụng cho những mục đích sau:
  • Lập bản đồ liên kết, xác định những gen liên kết với một tính trạng nào đó như tính trạng chất lượng sợi ở cây bông, tính trạng kháng virus ở cà.
  • Phân tích cấu trúc di truyền của quần thể.
  • In dấu vân tay (DNA fingerprinting).
  • Phát hiện sự khác biệt trong các dòng soma (Somaclonal variation).
Nhược điểm:
  • Tuy có nhiều ứng dụng trong nghiên cứu đa dạng di truyền nhưng chỉ thị RAPD cũng có một số hạn chế như sau:
    • Có tính trội (dominant) do đó khó phân biệt được những gen lặn hay cá thể dị hợp tử.
    • Có tính chất ngẫu nhiên nên sản phẩm PCR thường không thống nhất.
    • Cần phải có các thiết bị điện toán để xử lý số liệu.
    • Độ tin cậy còn tuỳ thuộc vào kỹ thuật cá nhân.
  • Kỹ thuật RAPD có độ chính xác không cao.
  • Không ổn định (thể hiện ở mức độ lặp lại giống nhau thấp).
  • Khả năng nhân bản trong phản ứng PCR cao nhưng khả năng xuất hiện đa hình thấp
  • Khả năng nhận diện chỉ thị phân tử thấp và có độ tin cậy không cao.

Đọc tiếp...

Tiểu luận: Quy trình sản xuất Soda

0 nhận xét
Với đề tài nghiên cứu: Quy trình sản xuất Soda, bài tiểu luận dưới đây có thể giúp các bạn sinh viên chuyên ngành Thực phẩm có tài liệu tham khảo để chuẩn bị cho bài tiểu luận hết môn Công nghệ sản xuất các chất vô cơ cơ bản sắp tới đây của mình. Chúc các bạn có bài tiểu luận được đánh giá cao!
Tiểu luận: Quy trình sản xuất Soda tiểu luận ngành công nghệ thực phẩm
LỜI MỞ ĐẦU
Sô đa là mặt hàng hóa chất mà lượng tiêu thụ có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với tỷ lệ tăng dân số và tốc độ tăng trưởng sản phẩm quốc dân của các nước.
Nhu cầu sô đa ngày càng tăng khi nền công nghiệp ngày càng phát triển. vì vậy sản lượng sô đa tăng liên tục trong vòng 100 năm nay. Trên thế giới hiện có 9 nước có công suất sản xuất sô đa trên 1 triệu tấn/ năm đó là: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Đức, Pháp, Italia, Ba Lan và Anh.
Phần lớn các nước sản xuất sô đa hàng đầu thế giới đều có dân số lớn và nhu cầu cao đối với các sản phẩm tiêu dùng được sản xuất từ nguyên liệu sô đa. Nhìn chung, so với các nước công nghiệp phát triển, các nước kém phát triển hơn có xu hướng có tốc độ gia tăng nhu cầu sô đa cao hơn và nghành sản xuất sô đa tại các nước này cũng thường đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn.
Trong hơn mười năm qua, vai trò của Trung Quốc trên thị trường sô đa thế giới đã thay đổi mạnh. Đầu thập niên 1990 Trung Quốc còn phải nhập nhiều sô đa để cung cấp cho các ngành sản xuất thủy tinh, hoá chất và chất tẩy rửa. Nhưng từ giữa đến cuối thập niên 1990, ngành sản xuất sô đa của Trung Quốc đã phát triển nhanh đến mức có lúc trở thành nguồn cung ứng sô đa lớn nhất cho các ngành sản xuất nội địa, vượt qua nguồn nhập khẩu từ Mỹ.
Năm 2002, sản lượng sô đa của Trung Quốc đạt 8,2 triệu tấn. Dự kiến năm 2003 sản lượng sô đa tại nước này sẽ tăng 5,7%, đạt 8,7 triệu tấn. Có nhiều khả năng là Trung Quốc sẽ sớm vượt Mỹ để trở thành nước sản xuất sô đa lớn nhất thế giới.
Chính vì nhu cầu cao nên sô đa được các nước trên thế giới tập trung phát triển không ngừng nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Chính vì vậy nhóm chúng em đã tìm hiểu cách điều chế sô đa cơ bản. Một cách nhìn tổng quát về sô đa để mọi người có thể hiểu về nó một cách đơn giản nhất.
Khái niệm
Natri cacbonat, hay còn gọi là sôđa, là một sản phẩm khoáng chất tồn tại tự nhiên ở quặng trona, nacolit và trong nước khoáng giàu natri cacbonat hoặc nước biển. Sôđa được sử dụng cho nhiều ứng dụng trong ngành công nghiệp hóa chất.
Ngoài sản xuất từ các loại quặng tự nhiên, sôđa còn được sản xuất tổng hợp từ nguyên liệu đá vôi, muối và amoniac. Quặng sôđa được tìm thấy với số lượng lớn ở Botswana, Trung Quốc (TQ), Ai Cập, Ấn Độ, Kenia, Mêxicô, Pêru, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ. Hơn 60 loại quặng sôđa đã được phát hiện trên toàn thế giới, và những loại quặng này đã chiếm 1/3 sản lượng toàn cầu (35 triệu tấn/năm). Còn 2/3 sản lượng là được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp. Sôđa có dạng nặng và dạng nhẹ.
Sôđa nặng với khối lượng riêng là 1 kg/dm3, được sử dụng cho sản xuất thủy tinh. Còn sôđa nhẹ có khối lượng riêng là 0,5 kg/dm3, được sử dụng để sản xuất các loại hóa chất, xà phòng, chất tẩy rửa. Sôđa cũng được sử dụng trong các ứng dụng: loại bỏ lưu huỳnh từ khí thải của các ống khói, xử lý nước, tinh chế dầu, sản xuất chất nổ và cao su tổng hợp.
Trong sản xuất công nghiệp hiện nay, soda có một vị trí rất quan trọng. Nó len lỏi vào hầu hết quá trình công nghiệp từ các ngành công nghiệp hoá chất đến công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ... đều cần sự có mặt của soda. Nhu cầu soda đứng thứ 11 tính về sản lượng khi so với các hợp chất vô cơ, hữu cơ, kể cả hóa dầu.
Bởi tầm quan trọng của mình, soda được đề cập sản xuất từ những năm 1775. Năm 1775, Viện Hàn lâm khoa học Pháp nêu giải thưởng cho phát minh tìm kiếm phương pháp sản xuất soda trong công nghiệp.
Natri bicacbonat NaHCO3; Xô Ða tinh thể (Na2CO3.10H2O và Na2CO3.H2O) Natricacbonat rất quan trọng thường dùng trong công nghiệp xà bông giấy xenlulozo, dệt, thủy tinh, luyện kim và nhiều nghành khác. 

Đọc tiếp...
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
 
Ebook miễn phí © 2012 - Xây dựng và phát triển